Copyrights by OnGame.US. Được tạo bởi Blogger.
RSS
Hiển thị các bài đăng có nhãn quân bài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quân bài. Hiển thị tất cả bài đăng

Cách chơi Phỏm (tá lả)

Phỏm 
 
Phỏm (tên khác: tá lả) là cách chơi bài của Việt Nam, dùng bộ bài tú lơ khơ, với số lượng người chơi từ 2-4 người. Phỏm xuất hiện vào cuối thế kỉ 20 và chưa rõ ai sáng tác.

Miền Bắc phổ biến tên gọi phỏm. Cách gọi "tá lả" dùng để chỉ 2 trò chơi khác nhau ở miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam (Tá lả ở miền Nam còn gọi là tiến lên kiểu miền nam, chơi theo luật tiến lên)

Sử dụng bộ bài gồm 52 lá (không dùng 2 quân Joker). Giá trị từ cao đến thấp như sau: K (ca/già)> Q (quy/đầm)> J (gi/bồi)> 10> 9> 8> 7> 6> 5> 4> 3> 2 > A (át/xì)>. Con K là mạnh nhất và A là yếu nhất.

Các lá bài có cùng giá trị tạo thành một nhóm (4 lá). Lá K là lá mạnh nhất và A là lá yếu nhất trong trò chơi này.

Có một người nhận 10 quân, những người còn lại nhận 9 quân bài. Còn các lá còn lại để thành một chồng. Bình thường, bài được chia theo chiều kim đồng hồ. Người chia nhận quân bài cuối trong mỗi lượt chia bài.


  • Rác (hay bài lẻ): bài rác là những lá bài riêng lẻ không thể kết hợp với lá bài khác theo "giá trị" hay "độ ưu tiên".
    • ví dụ: 2 || ♠Q || 4
Những lá bài này được xếp thành "cạ", "dập dòm" hay "phỏm chờ"
  • Ba lá: là sự kết hợp của ba lá bài có cùng giá trị
    • ví dụ: ♠44 4 || ♠KK ♣K || 2 ♠22 ...
  • sảnh (hay dây/bộ dọc): là sự kết hợp của ít nhất ba lá bài có cùng chất và có giá trị liên tiếp nhau.
    • ví dụ: ♣ 4 ♣ 5 ♣ 6 || 6 7 8 9 10 || ♠8 ♠9 ♠10 ♠J ...
Ai không có bộ ba lá hoặc phỏm nào trong trò này là người đó bị "móm" hay "cháy"

Cách chơi bài:

Trước khi chơi tráo (đảo) kỹ.
Một người có 10 quân và những người còn lại nhận 9 quân bài. Phần còn lại của bộ bài đặt vào giữa bàn
Người đi đầu (người có 10 quân) bỏ đi 1 lá bài rác trên tay của mình. Người kế tiếp có thể ăn lá bài đó nếu nó có thể hợp với bài trên tay thành một phỏm.

Nếu người kế tiếp không thể ăn hay không muốn ăn lá bài rác người tay trên đánh xuống, người đó phải nhận thêm 1 lá bài từ bộ bài ở giữa bàn.

Ván bài kết thúc khi có một người ù (Số lá bài trên tay người chơi có thể sắp xếp thành phỏm và không thừa lá bài nào, hoặc tương đương với sau khi hạ hết phỏm người đó còn 0 điểm).

Nếu không có ai ù, ván bài sẽ kết thúc sau 4 vòng đánh. Trước khi vứt đi lá bài rác trong vòng 4, người chơi cần trình tất cả những phỏm mình có cho mọi người biết.

Một số thuật ngữ


Có 2 quân liền nhau hoặc cùng hàng để chuẩn bị tạo phỏm (cần 1 quân nữa) gọi là "cạ", "dập dòm", hoặc "phỏm chờ"

Ai không có phỏm bị "móm" (hoặc "cháy")

Ai đạt 0 điểm gọi là "ù"

Ù khan: Thuật ngữ này được quy định tùy người chơi, một trong số các nghĩa của nó là chỉ việc 1 người chơi mà bài trên tay người chơi đó không thể sắp xếp thành Kạ hoặc thành Phỏm.

Phỏm gồm các quân cùng một hàng là "phỏm ngang": 3 quân J, 4 quân 10, 3 quân K ...

Phỏm gồm các quân liền nhau gọi là "phỏm dọc": J-Q-K, A♠-2♠-3♠ bích, 8-9-10-J vv...

Quân chốt hạ: quân cuối cùng của vòng đánh thứ 3

Né hạ: người chơi khi đánh hết 4 quân thì phải hạ phỏm. Thông thường ai cũng muốn hạ sau để có cơ hội "gửi quân" vào bài người khác nhằm hạ điểm. Khi có 1 người trong lượt đánh đó ăn quân khiến quân bài đã đánh ra được di chuyển sang người khác, làm giảm số quân hiện có nên người này chưa phải hạ bài, gọi là được né hạ.

Vỡ nợ: Một người có "cạ" gồm những quân bài cao điểm như J, Q, K, muốn chờ tới cuối bài hi vọng bốc hoặc ăn được 1 quân phù hợp để có phỏm nhưng cuối cùng không được, phải hạ bài với số điểm cao do những quân bài đọng lại đó tạo ra, gọi là vỡ nợ. Người đọng bài cao nhiều thường điểm cao và rất ít khi về nhất.

Luật bên lề

Ai mà đã nói ra tên quân bài nào thì phải đánh ra, nếu không được phép thay đổi.

Ai điểm thấp nhất sẽ thắng, nên đánh ra con càng cao càng tốt

Gửi quân: Người hạ bài sau có quyền gửi quân vào phỏm của người hạ trước để nối dài "phỏm" đó nhằm mục đích tiêu bài, giảm điểm cho bài mình. Ví dụ người hạ trước hạ 3 quân J, người hạ sau có 1 quân J còn lại có thể gửi vào đó trước khi hạ phỏm của mình. Nếu là phỏm dọc Không hạn chế số quân gửi, có thể gửi càng nhiều càng tốt để giảm điểm

Có thể đạt 0 điểm bằng nhiều cách: có 3 phỏm thường, có 1-2 phỏm dài, chỉ có 1-2 phỏm và "gửi quân" kế tiếp vào phỏm của người hạ trước để đánh ra hết bài...)

Thêm vòng: thông thường cả 4 người đã đánh hết 4 lượt quân thì hết bài. Nhưng nếu ở lượt cuối, người hạ bài trước lại ăn được quân bài cuối cùng của người hạ cuối đánh ra (và có thêm phỏm) thì bài úp vẫn còn, và do đó tới lượt của người tiếp theo bốc bài - đó là quân bài thứ 5 mà người đó bốc trong ván. Như vậy gọi là thêm vòng (hay "tời vòng"). Những trường hợp thêm vòng có thể xảy ra cùng với ù khan.

Ù tròn: thông thường khi hạ phỏm là kèm theo việc đánh ra 1 quân bài. Nhưng nếu ở vòng cuối xảy ra "thêm vòng", người đã hạ bài và gửi 1 số quân, còn lại 2 quân bài; sau đó người này lại bốc hoặc ăn được 1 quân bài phù hợp để có thêm phỏm. Nhưng với lượt hạ phỏm thêm này, người đó chỉ có đúng 3 quân tạo phỏm mà không có quân đánh ra, bài vừa hết để đạt 0 điểm, như vậy gọi là "ù tròn" (chỉ ra nguyên phỏm mà ù, không đánh bài ra). Một số trường hợp người chơi qui định cho phép ù khan, một số khác không cho ù tròn, tùy theo thỏa thuận giữa những người chơi.

Đền: Nếu một người chơi (A) cho người kế tiếp (B) ăn 3 lá bài, (B) sẽ ù, và (A) phải đền thay cho tất cả những người thua.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Lịch sử và ý nghĩa của 52 quân bài Tây

Theo đây mô tả bài viết về lịch sử hình thành và sự phổ biến của 52 quân bài Tây được chơi trên thế giới.

Bộ bài Tây (ở miền Bắc Việt Nam còn gọi là tú lơ khơ hoặc bộ tú) - (chữ Hán: 杜拉克) - (tiếng Anh: Playing cards) bao gồm có 54 lá bài, trong đó có 52 lá thường: K, Q, J, 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, A kết hợp với 4 chất: Cơ, Rô, Chuồn (Tép), Bích và hai lá Joker (còn gọi là phăng teo hay chú hề). Ở Việt Nam, thường gọi bộ bài này là bộ bài Tây vì xuất xứ từ Tây phương và để phân biệt với bộ bài Trung Quốc hay bộ bài ta (để chơi Tam cúc, tứ sắc, tổ tôm,...)

 Ý nghĩa bộ bài

Bộ bài mang ý nghĩa 1 năm dương lịch: 4 chất (suit) là 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông; 52 quân là 52 tuần trong năm, tức mỗi mùa gồm 13 tuần, tượng trưng bởi 13 quân. 52 tuần là 364 ngày, gần bằng số ngày thực tế trong 1 năm.

Mỗi hạng (rank) trong từng bộ 13 quân cùng chất cũng đại diện cho 1 tháng trăng kéo dài 28 ngày, gồm 4 quân khác nhau tức 4 tuần. Do đó cả bộ bài gồm 13 tháng, mỗi tháng có 4 tuần cũng ứng với 52 tuần trong 1 năm. 

Xuất hiện lần đầu tiên năm 1127, sau 9 thập kỷ, bộ bài Tây 52 lá – đã trở thành loại bài chơi phổ biến nhất trên thế giới. Từ những ý nghĩa khác nhau của 52 quân bài, con người đã sáng tạo ra hàng trăm, hàng ngàn cách ứng dụng, giải trí thú vị khác nhau như Poker, Bixa, Black Jack,…

Bộ bài Tây khởi nguồn nhiều màu sắc

Một bộ bài Tây sẽ gồm 52 lá theo các quy ước khác nhau về giá trị. Cho tới nay chưa có sách vở nào nói rõ về nguồn gốc của bộ bài này. Một số người thì cho cho rằng chính người Trung Quốc chơi bài Tây đầu tiên. 
Tuy nhiên một số khác lại cho rằng chính người Ba Tư đã phát minh ra nó. Từ năm 1127, người Trung Quốc từng biết chơi các quân bài bằng gỗ được nhuộm nhiều màu, dù các hình vẽ còn đơn giản. Ban đầu các quân  bài Tây không phải chỉ có tới 4 màu mà một số loại bài xưa còn có đến 8 hoặc 10 màu. Và cách đây không lâu lắm người ta còn thử chơi bài Bridge với 5 màu.

 

Thăng hoa vào thời đại Charles VI

Thú chơi bài Tây có một chuyến đi dài hạn tại nhiều nước và được chào đón rất nồng nhiệt như ở Venise, Tây Ban Nha... Tuy nhiên, nó chỉ thực sự "thăng hoa" vào thời điểm 100 năm sau tại Paris, khi sự đam mê của Vua Pháp Charles (1368-1422) đã làm nảy sinh một ngành công nghiệp sản xuất bài. Điều này tạo ra một trào lưu, một phong cách của giới quý tộc. Đến nỗi mà giới vua chúa trong triều đình Pháp ra một sắc lệnh ban bố cấm giới dân đen không được chơi.
Tương tự, đến năm 1480, người Anh cũng bị mê hoặc bởi bộ bài 52 lá này. Những người thuộc Hoàng Gia khi ấy, chơi bài suốt nhiều ngày liền với số tiền đặt cược rất lớn. Và điều đương nhiên là Quốc Hội Anh khi ấy phải thấy cần nhanh chóng ra lệnh cấm những người hầu và học việc không được chơi bài vào kỳ nghỉ lễ Noel.

 

Đến với mọi người dân

Sau một thời gian dài trở thành thú chơi xa xỉ cho giới thượng lưu và quý tộc ở các nước châu Âu, thì đến thế kỷ 16 và 17, Bộ bài Tây 52 lá dần trở nên thông dụng trong tất cả các tầng lớp dân chúng. Và theo năm tháng, trở thành một phần của cuộc sống con người trong những hình ảnh trang trí trong nhà, trong những con tem lưu hành quanh thế giới…

 
Con tem cổ dùng hình ảnh lá bài tây

Trò chơi sử dụng bộ bài tiêu chuẩn (gồm 52 lá bài). Mỗi quân bài gồm 2 phần là sốchất (ví dụ trên quân ♥5 có số là 5 và chất là cơ).

Giá trị (độ mạnh) của các quân bài phụ thuộc trước tiên vào số, nếu 2 quân bài cùng số thì sẽ so sánh theo chất. Xếp hạng "độ mạnh" theo số và chất như sau:
  • 2 (đọc là hai hay heo)> A (đọc là át hay xì)> K (đọc là ca hay già)> Q (đọc là quy hay đầm)> J (đọc là gi hay bồi)> 10> 9> 8> 7> 6> 5> 4> 3.
  • cơ> rô (hay vuông)> ♣ chuồn (hay tép-trèfle, nhép)> ♠ bích (hay pích).
Do vậy:
  • ♥2 (hai cơ) là lá bài lớn nhất trong trò chơi
  • lá ♠3 (ba bích) là lá bài nhỏ nhất trong trò chơi
  • lá ♠10 (mười bích) lớn hơn lá ♥9 (chín cơ).
 Nguồn: Internet

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS